|
|
|
Khoa học ngày nay thành công trong một số trường hợp bằng việc thực hiện
tạo sinh nhân tạo (x.Nguyễn
Công Vinh, Giải đáp thắc mắc tình yêu và gia đình, Hà Nội 2006, NXB Tôn
Giáo, tr 107). Việc tạo sinh nhân tạo mà y học đang thực
hiện gồm có: Thụ tinh nhân tạo, Thụ tinh trong ống nghiệm, Tạo sinh vô
tính. Trong phần nầy, chúng ta chỉ đề cập đến thụ tinh nhân tạo, thụ
tinh trong ống nghiệm và mang thai hộ.
I. Thụ tinh nhân tạo
1/ Thụ tinh
nhân tạo do tinh trùng của người chồng: Lấy
tinh trùng của người chồng và gieo cấy vào tử cung người vợ mà không
giao hợp.
2/ Thụ tinh
nhân tạo do tinh trùng của người khác: Khi
tinh trùng của người chồng không có khả năng đậu thai hoặc người chồng
không có tinh dịch, người ta lấy tinh trùng của một người khác không
phải là chồng của người phụ nữ và đem gieo cấy vào tử cung của chị. Tinh
trùng cũng có thể lấy ở Trung Tâm Bảo Quản Tinh Trùng. Trường hợp nầy có
thể là vô danh, nghĩa là không biết ai là cha đứa bé sẽ chào đời.
II. Thụ tinh trong ống nghiệm
Trứng của người nữ được hút ra theo phẫu thuật. Trứng và tinh trùng được
phối hợp trong ống nghiệm. Sau khi trứng được thụ tinh thành phôi, người
ta cấy phôi nầy vào tử cung người nữ. Người nữ nầy có thể là vợ hoặc một
người nữ khác không phải là vợ. Trường hợp cấy phôi vào một người nữ
khác không phải là vợ, thì gọi là thụ thai và đẻ mướn.
Kỹ thuật y khoa thành công trong nhiều trường hợp thụ thai nhân tạo và
thụ tinh trong ống nghiệm. Nhưng những cách thụ tinh nầy để lại nhiều
hậu quả nghiêm trọng, nhất là về mặt luân lý:
1/ Khi tinh trùng và trứng không phải là của hai vợ chồng, thì đứa bé
sinh ra không thể coi là con của họ.
2/ Khi tinh trùng là của người khác được đưa vào tử cung người vợ để thụ
thai, thì vi phạm đến luật hôn nhân do có sự can thiệp của người thứ ba,
vì con cái là kết quả sự phối hợp tình yêu chỉ giữa hai vợ chồng mà
thôi, đứa bé sinh ra coi như là con ngoại tình.
3/ Những đứa con sinh ra do việc lấy tinh trùng của cùng một người để
cho nhiều người, sau nầy kết hôn với nhau mà không biết, đưa đến trường
hợp loạn luân, vì cùng một cha khác mẹ.
4/ Trường hợp người phụ nữ độc thân thụ thai cách nầy, đứa con sinh ra
coi như không có cha. Điều nầy gây nhiều bất lợi cho đứa con về mặt thể
lý và tâm lý.
5/ Việc mang thai và đẻ mướn tạo nên nhiều phức tạp về mặt tình cảm, đạo
đức và pháp lý, khi người mang thai đẻ mướn từ chối không giao lại đứa
bé cho người thuê mình mang thai và sinh.
6/ Việc thụ tinh trong ống nghiệm rồi đem cấy vào tử cung gây nhiều hậu
quả nghiêm trọng cho người nữ như ung thư tử cung hoặc trụy tim
Giáo Hội Công giáo không chấp nhận những cách thức thụ thai nêu trên, vì
nó đi ngược lại với giáo huấn của Chúa và giáo lý truyền thống của Giáo
Hội:
a/ Kinh thánh dạy rằng Thiên Chúa là chủ sự sống con người. Thiên Chúa
đã tạo thành sự sống của muôn loài muôn vật, trong đó, sự sống con người
là cao quý nhất (x.St 1,26-27;2,7.5,12). Con người không có quyền tuyệt
đối trên sự sống của mình. Họ được mời gọi tham dự vào công trình tạo
thành sự sống mới và lãnh trách nhiệm làm phát triển sự sống ấy (x.St
1,28), như là những hồng ân quý giá.
b/ Nhiều lần Giáo Hội đã xác định rõ rệt lập trường của mình về vấn đề
nầy:
-Năm 1949, Đức Giáo Hoàng Piô XII tuyên bố việc thụ thai nhân tạo với
tinh trùng của một người khác là trái luân lý: “Việc
thụ thai nhân tạo bằng tinh trùng của một người khác là nghịch với tính
duy nhất của hôn nhân, với phẩm giá của vợ chồng, với ơn gọi riêng của
cha mẹ và với quyền của đứa bé được thụ thai và sinh ra trong hôn nhân
và do hôn nhân” (Pius XII Address to Catholic Doctors, September 29,
1949,ASS 41 (1949), tr. 560).
- Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin và Kỷ Luật các Bí Tích, trong Huấn thị Donum
Vitae (Hồng ân sự sống), đã khẳng định: “Việc
nhờ đến tinh trùng hay trứng của người thứ ba để thụ thai, là vi phạm
đến sự cam kết hỗ tương giữa vợ chồng và là một thiếu sót trầm trọng đối
với tính duy nhất là đặc tính thiết yếu của hôn nhân […]. Ngoài ra, việc
thụ thai nhân tạo nơi người nữ không kết hôn, độc thân hay góa bụa, cho
dù tinh dịch là của ai, thì cũng không thể biện minh được về mặt đạo
đức” (Sđd, II,2).
- Giáo Hội cũng lên án việc thụ thai nhân tạo với tinh trùng của người
chồng, vì nó trái với luân lý:
.Công Đồng Vaticanô II, trong Hiến chế Mục vụ Vui mừng và Hi Vọng, đã
xác định:
“Chính
những hành vi đặc thù của đời sống vợ chồng, được thực hiện đúng theo
phẩm giá đích
thực của con người, đều phải được tôn trọng[…], những tiêu chuẩn ấy sẽ
tôn trọng ý nghĩa trọn vẹn của sự trao hiến và sinh sản con cái trong
khung tình yêu đích thực”(CĐ Vaticanô II,GS số 51).
.Đức Giáo Hoàng Phaolô VI cũng đã bác bỏ hình thức thụ thai nầy:
“Kết hợp và
tạo sinh, là mối dây không thể tháo gỡ và con người không thể tự ý phá
bỏ[…]. Chính bằng cách bảo vệ hai khía cạnh chính yếu là kết
hợp và tạo
sinh,
mà việc thân mật vợ chồng giữ trọn được ý nghĩa yêu thương lẫn nhau một
cách đích thực và duy trì sự quy hướng về ơn gọi cao quý làm cha mẹ của
con người” (TĐ. Humanae vitae, số 12; AAS 60 (1968), tr.488-489).
.Đức
Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II, trong diễn văn tại Hiệp Hội Các Thầy Thuốc
Thế Giới Khóa 35, ngày 29/10/1983, đã nói:
“Con người
bắt nguồn từ một sự tạo sinh nối liền với sự kết hợp không những sinh lý
mà còn thiêng liêng của cha mẹ, là những người được kết hợp nhờ dây liên
kết hôn nhân” (x. AAS76 [1984], tr. 392).
. Giáo luật 1983, điều 1061,1 quy định:
[…]“ Hôn
nhân thành sự và hoàn hợp, khi hai bên đã theo cách thức hợp với nhân
tính thực hiện hành vi phu thê, tự nó có khả năng sinh sản con cái; hành
vi nầy là mục tiêu tự nhiên của hôn nhân và làm cho vợ chồng trở thành
một xương một thịt”.
c/ Việc thụ tinh trong ống nghiệm
- Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin khẳng định: “Theo
Giáo lý truyền thống về các điều tốt lành của hôn nhân và phẩm giá con
người, Giáo Hội đứng ở quan điểm đạo đức vẫn chống đối việc thụ thai
trong ống nghiệm; việc nầy tự nó trái với luật đạo đức và đi ngược lại
phẩm giá của việc tạo sinh và của sự kết hợp vợ chồng, ngay cả khi người
ta làm mọi cách để tránh việc sát hại phôi thai” (Donum Vitae, II,5).
III.Mang thai hộ (mang thai và
đẻ mướn)
Trong việc thụ tinh nhân tạo dị hợp, phôi thai người là do sự gặp gỡ
giữa những giao tử của hai người cho, ít nhất một trong hai người không
thuộc cặp vợ chồng kết hợp trong hôn nhân. Việc thụ tinh nhân tạo dị
hợp, như đã đề cập ở trên, nghịch với tính duy nhất của hôn nhân, với
phẩm giá của vợ chồng, với ơn gọi riêng của cha mẹ và với quyền của đứa
trẻ thụ thai và sinh ra, trong hôn nhân và do hôn nhân.
Việc làm
mẹ thay thường
bắt đầu bằng việc thụ tinh dị hợp nầy. Do đó, không được phép, vì những
lý do giống như các lý do đưa đến việc không được phép thụ tinh nhân tạo
dị hợp. Thật vậy, việc làm
mẹ thay nghịch
với tính duy nhất của hôn nhân và với phẩm giá của việc tạo sinh con
người. Việc làm
mẹ thay là một
thiếu sót khách quan, đối với bổn phận của tình mẫu tử, của sự trung tín
giữa vợ chồng và của trách nhiệm làm mẹ. Việc đó xúc phạm tới phẩm giá
của đứa con và quyền của nó được thai nghén cưu mang, sinh ra và giáo
dục bởi chính cha mẹ nó. Việc đó gây thiệt hại cho gia đình khi chia cắt
các yếu tố thể xác, tâm linh và đạo đức, là những yếu tố cấu thành gia
đình (Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, Huấn thị Donum Vitae, Roma 22.02.1987,
số II, A, 2-3).
Ngoài ra còn có nhiều phúc tạp khác về mặt xã hội.
Vợ chồng cố gắng tìm một đứa con nuôi để bù đắp lại việc không thể sinh
con. Có khi đứa con nuôi, nếu được nuôi dạy đàng hoàng, còn quý hơn con
đẻ nữa[1].
Linh Mục Anphong Nguyễn Công
Vinh
(WGP.Phan Thiết 26.06.2014)
[1] x.Nguyễn Công Vinh, Tìm
hiểu Giáo Luật về Hôn Nhân và Gia đình, Q.2,NXB Tôn
Giáo,2009.